5 cách sử dụng giúp xe số bền hơn

Sử dụng số hợp lý, phanh đúng cách, không ép côn, thay lọc gió, lọc dầu đúng hạn… là những cách giúp chiếc xe của bạn bền hơn.

1. Sử dụng số hợp lý

Một trong những tật xấu thường gặp nhất của lái xe là không về số thấp khi dừng đỗ tạm thời, dừng đèn đỏ, hoặc điều khiển xe tốc độ thấp trong khi vẫn để số cao. Thới quen này sẽ làm xe bạn “ngốn” xăng nhiều hơn và động cơ phải hoạt động trong tình trạng yếu, máy ì, nhanh lão hóa hơn.

Thông thường, nếu để ý trên các bảng đồng hồ công-tơ-mét của các dòng xe số, nhà sản xuất thường chỉ định rõ ràng tốc độ hợp lý nhất. Chẳng hạn, trong khoảng từ số 1 đến số 2 tốc độ là 20 km/h, từ số 2 – 3: 20 – 40 km/h, số 3 – 4: 40 – 60 km/h… Do đó, bạn hãy sử dụng số hợp lý để xe luôn được vận hành trong điều kiện tốt nhất, luôn về số thấp khi đi chậm hay dừng đèn đỏ hoặc sau khi phanh.

2. Phanh đúng cách

Tất cả xe máy đều có 2 phanh nằm ở bánh trước và bánh sau, vì thế, bạn nên nhớ hãy luôn giữ chân phải lên bàn đạp phanh khi điều khiển xe và tay phải đặt trên cần phanh tay. Nếu chỉ sử dụng phanh trước, nguy cơ bị trượt bánh trước là rất cao. Còn nếu sử dụng chỉ phanh sau, sẽ có nguy cơ chiếc xe bị văng, trượt.

Trong cả hai trường hợp, nếu may mắn xe không bị lật, đổ thì bạn cũng mất một quãng đường phanh dài cho tới khi chiếc xe dừng hẳn lại. Cách tốt nhất phanh đồng thời cả hai phanh trước/sau theo nguyên tắc để phanh sau bám trước rồi mới bóp phanh trước.

3. Không ép côn

Tật ép côn để rồ ga, tăng độ vọt ở xe số thường gặp ở các bạn trẻ, tuy nhiên bạn không nên làm điều này nếu không muốn phải thay côn thường xuyên hoặc luôn phải nghe tiếng hú khó chịu của ly hợp khi vận hành. Thông thường đối với các xecôn tự động hoặc côn tay, bộ ly hợp được sử dụng vào mục đích cho xe chuyển tốc độ theo từng bước số. Việc giữ chân, tay để thực hiện thao tác ép côn rồi thả mạnh đột ngột nhằm tăng tốc cho xe sẽ khiến cho hệ thống ly hợp phải hoạt động với cường độ mạnh, dễ gây hỏng.

4. Thay lọc gió, lọc dầu đúng hạn

Lọc gió có tác dụng ngăn mọi bụi bẩn, tạp chất lọt vào động cơ, nếu chúng bị rách, hỏng sẽ không thể cung cấp chuẩn xác lượng gió cho chế hòa khí, dẫn tới các hiện tượng như: xe ăn xăng nhiều hơn, khó nổ vào buổi sáng, không thể đạt được công suất tối đa. Còn nếu để lọc dầu tắc, nhiệm vụ thanh lọc các tạp chất lẫn trong dầu buồng máy sẽ bị ảnh hưởng nếu như không được thay mới đúng lúc. Lọc dầu khi tắc sẽ gây ra hiện tượng thiếu dầu cho động cơ. Điều này khiến xe vận hành bị nóng hơn và dễ xảy ra hiện tượng bó máy.

5. Không đấu nối thêm đèn điện, dùng phụ gia ngoài

Gần đây, nhiều vụ cháy xe khi đang vận hành có nguyên nhân từ việc chủ xe đấu nối thêm các thiết bị điện từ ngoài vào. Các thiết bị như: còi đôi, đèn pha công suất lớn, đèn chớp, đèn màu trang trí… lắp thêm đều là nguyên nhân chính khiến bình ắc quy, đi ốt xạc, cuộn điện bị hỏng; thậm chí gây cháy xe. Nguyên nhân chính là do khi lắp đặt thêm những thiết bị, cuộn điện không sản sinh đủ công suất, dây điện bị chập cháy do quá tải hoặc bình ắc quy nhanh bị hao điện.

Theo Autodaily

Tại sao xe ga lại hao xăng hơn xe số?

Xe máy tay ga hao xăng hơn xe số xuất phát từ 2 nguyên nhân: kết cấu và sử dụng.

Hỏi: Xin cho biết tại sao xe tay ga lại hao xăng hơn xe số?

Nguyễn Văn Thịnh (Hà Nội)

Trả lời:

Xe tay ga hao xăng hơn xe số vì các lý do sau:

Nguyên nhân về kết cấu

- Sử dụng bộ truyền vô cấp bằng đai cao su nên xuất hiện sự trượt trong truyền động.

- Sử dụng lốp to bản và đường kính nhỏ, áp suất lốp thấp dẫn tới tăng cản lăn khi bánh xe quay.

- Kích thước của xe rộng hơn tăng cản không khí.

Ngoài ra còn do kỹ thuật của người sử dụng gây nên:

- Thay đổi liên tục tốc độ trong một khoảng rộng nhiều, (tăng giảm ga đột ngột).

- Phanh và tăng ga thường xuyên dẫn tới thay đổi tốc độ quá nhanh, làm cho sự trượt của bộ truyền đai tăng.

- Sử dụng quá tải.

- Lốp bơm quá căng.

- Đi trên đường quá xấu.

Các nguyên nhân trong kỹ thuật sử dụng có thể hạn chế được do vậy cũng có khả năng giảm tiêu thụ nhiên liệu.

Theo Autodaily.VN

Động cơ 4 kì cao tốc là gì?

Khái niệm cao tốc được hiểu là động cơ có thể làm việc với tốc độ vòng quay cao so với trước đây.

Hỏi:

Ở xe máy thường dùng động cơ hai 2 kì và động cơ 4 kì cao tốc. Vậy động cơ 4 kì cao tốc là gì? Và ở xe máy nào dùng động cơ 4 kì cao tốc?

Phạm Văn Định (Phú Thọ)

Trả lời:

Thuật ngữ cao tốc của bạn cũng rất khó xác định, tuy vậy có thể trao đổi với bạn như sau. Trước đây thường có các loại động cơ xe máy 2 kỳ sử dụng với tốc độ cao nhất khỏang 4000 – 5000 vòng/phút. Khoảng sau 1960 xuât hiện các động cơ xăng 4 kỳ cho xe máy với tốc độ lớn nhất có thể đạt tới 12000 vòng/phút và hơn thế nữa. Như vậy khái niệm cao tốc được hiểu là động cơ có thể làm việc với tốc độ vòng quay cao so với trước đây.

Việc nâng cao số vòng quay lên như thế được quyết định bởi việc hoàn thiện hệ thống đánh lửa và hệ thống nạp và thải khí. Như vậy nhờ sự đưa vào hệ thống đánh lửa điện tủ và hệ thống phối khí chuyển từ 2 kỳ thành 4 kỳ tốc độ quay của động cơ đã nâng cao hơn.

Các loại xe ngày nay phần lớn sử dụng động cơ 4 kỳ. Hiện nay, ở nước ta xe máy đang chế tạo và lắp ráp ở VN đều dùng động cơ 4 kỳ cả.

Theo Autodaily.VN

Bạn muốn mua Suzuki Axelo?

Nếu bạn muốn mua Suzuki Axelo hoặc muốn chúng tôi hỗ trợ, vui lòng bình luận ở dưới theo mẫu sau, các thông tin bạn cung cấp chỉ có chúng tôi được biết:

Họ Tên:
Số Điện Thoại:
Địa chỉ:
Tôi muốn mua Suzuki Axelo: Có/Không
Tôi muốn hỏi thông tin: <câu hỏi>

Kiến thức cơ bản về dầu nhớt xe máy

Thế nào là độ nhớt? Sự phá hỏng độ nhớt diễn ra như thế nào? Những lưu ý gì khi chọn dầu nhớt cho xe gắn máy? Dầu nhớt sử dụng cho xe máy khác ôtô ở điểm nào? Bạn sẽ có câu trả lời ngay sau đây:

Sự khác nhau giữa dầu nhớt dùng cho xe máy và ôtô

Trong động cơ xe gắn máy, hầu hết những bề mặt chi tiết máy tương đồng di chuyển nhanh hơn rất nhiều so với ở động cơ xe hơi và xe tải, theo truyền thống là vào khoảng 2 tới 10 lần, tùy thuộc vào số vòng tua khác nhau, hành trình piston, tốc độ piston.

Thêm vào đó, hầu hết các xe gắn máy hiện đại được thiết kế chạy trong thành phố có ly hợp ướt, tức là các đĩa ly hợp được ngâm trong dầu trong hộp số để tự bôi trơn chính nó. Thực tế là một số xe gắn máy vẫn sử dụng cách làm mát bằng không khí nên sẽ khiến cho dầu nóng hơn gấp từ 1,5 đến 3 lần hơn là động cơ làm mát bằng két nước. 4 điểm khác biệt (tốc độ, ly hợp, hộp số và nhiệt độ dầu) là nền tảng cho những khác biệt cơ bản giữa công thức dầu nhớt xe gắn máy và dầu nhớt xe hơi.

Có thể lấy ví dụ, dầu nhớt Mobil 1 V-Twin 20W-50 chứa nhiều hơn 25% phụ gia chống mài mòn và chống ôxi hóa hơn là loại dầu nhớt Mobil 1 tương tự được sử dụng cho xe hơi lâu nay.

Độ nhớt

Tất cả dầu nhớt động cơ đều được xếp loại bởi độ nhớt, liên quan tới dầu nhớt chảy như thế nào ở một nhiệt độ xác định (nhiệt độ đo đạc theo chuẩn là ở 40°C và 100°C). Chỉ số độ nhớt càng cao thì dầu càng đặc và sẽ càng chảy chậm hơn qua các khe máy. Nói chung, độ nhớt càng cao (còn gọi là độ nặng), dầu sẽ đặc hơn, và do đó dầu sẽ giảm thiểu được ma sát tốt hơn khi dầu nóng lên.

Phân biệt sâu hơn, chúng ta sẽ thấy có loại dầu đa độ nhớt (dầu đa cấp). Dầu đa độ nhớt là dầu nhớt được đặc chế theo công thức giúp nó có đặc tính như thể là có 2 độ nhớt khác nhau, phụ thuộc vào nhiệt độ. Ở nhiệt độ thấp hơn 40°C, nó chảy như loại dầu có độ nhớt được ghi ở số đứng đầu tiên, và ở nhiệt độ cao hơn 100°C, nó chảy như loại dầu có độ nhớt được ghi ở số đứng thứ hai. Loại dầu đa cấp này được tạo ra bởi việc thêm vào các chất trùng hợp chuỗi dài (long-chain polymers), có đặc tính là co lại khi lạnh nhưng lại duỗi ra khi nóng, và do đó làm thay đổi đặc tính độ nhớt của dầu.

Như vậy loại dầu 10w40 sẽ chảy như dầu có độ nặng 10 khi ở nhiệt độ 40°C (khá loãng), nhưng sẽ không loãng hơn dầu có độ nặng 40 khi nóng ở nhiệt độ 100°C.

Đặc tính dầu nhớt của nhà sản xuất động cơ

Dầu càng đặc thì càng giảm được rung chấn tốt hơn, nhưng ở cùng thời điểm thì dầu có thể là sẽ quá đặc (đặc biệt khi trời lạnh) hoặc là quá loãng (đặc biệt khi trời nóng) ảnh hưởng tới hiệu năng của bơm dầu. Dầu quá đặc (hoặc chứa các chuỗi polymer quá dài, chẳng hạn 10W60) có thể khiến thiếu hụt dầu do dầu quá đặc không thể chảy qua được các khe hở khít, chẳng hạn giữa xéc măng và xylanh. Vì vậy mà các nhà sản xuất động cơ chỉ định một loại độ nặng được khuyến cáo cho sản phẩm của họ, cái mà cân bằng giữa nhu cầu giảm thiểu ma sát với khả năng của bơm dầu để làm văng dầu vào các chi tiết máy khi máy lạnh hoặc nóng đảm bảo bôi trơn được toàn bộ các chi tiết máy.

Từ khi dầu nhớt động cơ thông thường không bao giờ lạnh hơn môi trường xung quanh động cơ, các nhà sản xuất động cơ thường chỉ định dầu động cơ đa cấp cho động cơ của họ dựa trên nhiệt độ môi trường xung quanh khi động cơ hoạt động và khi không hoạt động.

Sự phá hỏng độ nhớt

Như đã biết, độ nhớt của dầu càng cao thì càng chống lại ma sát tốt hơn. Sự phá hỏng độ nhớt là hoạt động chia cắt các hyđrô cácbon trong dầu, làm giảm hiệu quả của khả năng chống lại ma sát của dầu. Nếu độ nhớt bị hỏng quá nhiều thì dầu sẽ đơn giản là không thể bảo vệ được bề mặt động cơ khỏi ma sát nữa. Sự phá hỏng độ nhớt là một trong 3 lý do đầu tiên mà chúng ta phải thay dầu. Hai lý do còn lại là các hạt lơ lửng hoặc chất gây ô nhiễm mà có thể gây mòn các bề mặt va chạm, và sự ôxi hóa hay còn gọi là sự hình thành cặn trong dầu.

Bất cứ ai đã từng xem TV trong khoảng thập niên 80 đến 90 đều biết (từ việc xem chương trình quảng cáo dầu nhớt Castrol GTX), động cơ chạy ở vòng tua cao hơn thì sẽ phá hỏng độ nhớt nhanh hơn. Đấy là do tốc độ xuất hiện lực trượt phá cao hơn (sự đổi hướng của các bộ phận cơ khí nhanh hơn) và tốc độ phản ứng hóa học nhanh hơn (do nổ nhiều hơn…), cũng như nhiệt độ cao. So sánh với động cơ ôtô, vòng tua động cơ xe gắn máy nhanh hơn rất nhiều do đó cũng gây hỏng dầu nhanh hơn. Nhiệt độ cao là một nguyên nhân nhiều hơn khiến cho các xe giải nhiệt bằng gió hoặc dầu bị phá hỏng độ nhớt nhanh hơn các xe có giải nhiệt bằng két nước (nhanh hơn rất nhiều so với ôtô).

Thay dầu và lọc dầu:

Bạn hãy thay dầu thường xuyên hơn theo khuyến cáo của nhà sản xuất trong trường hợp:

- Xe chạy trong môi trường nhiều bụi bẩn (chẳng hạn sa mạc hoặc đường đất);

- Xe chạy trong môi trường có độ ẩm cao (độ ẩm cao hơn 85%);

- Xe chạy thường xuyên trong môi trường có nhiệt độ cao (trên 32°C);

- Bạn hay chạy xe những quãng ngắn (dưới 15 dặm);

- Bạn hay chạy ép số tức là chạy ở vòng tua cao (chẳng hạn khi depart ở đèn đỏ);

- Bạn thường xuyên phải tăng giảm tốc đột ngột lúc tắc đường hoặc nói chung là đi trong thành phố (có thể làm cho dầu chóng nhanh hỏng tới 50%);

- Bạn lái xe không thường xuyên (ít hơn một lần mỗi 4 ngày);

Bạn nên thay dầu ngay lập tức bất cứ lúc nào nếu như xe bị quá nhiệt hoặc có dấu hiệu quá nhiệt hoặc trong trường hợp động cơ bị vào nước.

Lưu ý đặc biệt đối với bộ chế hòa khí

Dẫu cho thị trường xe gắn máy đang chuyển dần sang sử dụng chế hòa khí điện tử (hệ thống phun xăng điện tử), vẫn có rất nhiều xe gắn máy sử dụng chế hòa khí truyền thống. Bất cứ khi nào chiếc xe gắn máy sử dụng chế hòa khí thường bị đổ (dù trong trường hợp đang chạy ở tốc độ cao hay chỉ bị đổ ở nơi dựng xe), một phần xăng từ bát phao của chế hòa khí sẽ chảy xuống động cơ. Xe có chế vuông cũng bị tương tự. Xăng sẽ làm cho dầu mất khả năng bôi trơn. Do vậy, bất cứ khi nào xe bạn bị xăng chảy vào dầu thì phải thay dầu ngay lập tức. Nếu không làm vậy thì động cơ sẽ sớm bị hỏng.

Chọn lựa độ nhớt phù hợp:

Sử dụng độ nhớt được khuyến cáo bởi nhà sản xuất xe gắn máy phù hợp với môi trường xunh quanh mà bạn lái xe. Dẫu cho là dầu có độ nhớt càng cao thì theo lý thuyết sẽ giảm thiểu ma sát càng tốt, những cũng có thể giảm thiểu lượng dầu chảy qua vòng bi và giữa các bề mặt khít, dẫn đến hiện tượng thiếu dầu ở những điểm đấy (như vậy đủ để loại bỏ lý lẽ là dầu càng đặc càng tốt để sử dụng). Không bao giờ sử dụng loại dầu loãng hơn được khuyến cáo (chẳng hạn nếu chỉ định của nhà sản xuất là 10W-40 thì không được sử dụng loại 5W-40).

Thế Đạt (Theo PL&XH/ Nguồn: OF)