Kiến thức cơ bản về dầu nhớt xe máy

Thế nào là độ nhớt? Sự phá hỏng độ nhớt diễn ra như thế nào? Những lưu ý gì khi chọn dầu nhớt cho xe gắn máy? Dầu nhớt sử dụng cho xe máy khác ôtô ở điểm nào? Bạn sẽ có câu trả lời ngay sau đây:

Sự khác nhau giữa dầu nhớt dùng cho xe máy và ôtô

Trong động cơ xe gắn máy, hầu hết những bề mặt chi tiết máy tương đồng di chuyển nhanh hơn rất nhiều so với ở động cơ xe hơi và xe tải, theo truyền thống là vào khoảng 2 tới 10 lần, tùy thuộc vào số vòng tua khác nhau, hành trình piston, tốc độ piston.

Thêm vào đó, hầu hết các xe gắn máy hiện đại được thiết kế chạy trong thành phố có ly hợp ướt, tức là các đĩa ly hợp được ngâm trong dầu trong hộp số để tự bôi trơn chính nó. Thực tế là một số xe gắn máy vẫn sử dụng cách làm mát bằng không khí nên sẽ khiến cho dầu nóng hơn gấp từ 1,5 đến 3 lần hơn là động cơ làm mát bằng két nước. 4 điểm khác biệt (tốc độ, ly hợp, hộp số và nhiệt độ dầu) là nền tảng cho những khác biệt cơ bản giữa công thức dầu nhớt xe gắn máy và dầu nhớt xe hơi.

Có thể lấy ví dụ, dầu nhớt Mobil 1 V-Twin 20W-50 chứa nhiều hơn 25% phụ gia chống mài mòn và chống ôxi hóa hơn là loại dầu nhớt Mobil 1 tương tự được sử dụng cho xe hơi lâu nay.

Độ nhớt

Tất cả dầu nhớt động cơ đều được xếp loại bởi độ nhớt, liên quan tới dầu nhớt chảy như thế nào ở một nhiệt độ xác định (nhiệt độ đo đạc theo chuẩn là ở 40°C và 100°C). Chỉ số độ nhớt càng cao thì dầu càng đặc và sẽ càng chảy chậm hơn qua các khe máy. Nói chung, độ nhớt càng cao (còn gọi là độ nặng), dầu sẽ đặc hơn, và do đó dầu sẽ giảm thiểu được ma sát tốt hơn khi dầu nóng lên.

Phân biệt sâu hơn, chúng ta sẽ thấy có loại dầu đa độ nhớt (dầu đa cấp). Dầu đa độ nhớt là dầu nhớt được đặc chế theo công thức giúp nó có đặc tính như thể là có 2 độ nhớt khác nhau, phụ thuộc vào nhiệt độ. Ở nhiệt độ thấp hơn 40°C, nó chảy như loại dầu có độ nhớt được ghi ở số đứng đầu tiên, và ở nhiệt độ cao hơn 100°C, nó chảy như loại dầu có độ nhớt được ghi ở số đứng thứ hai. Loại dầu đa cấp này được tạo ra bởi việc thêm vào các chất trùng hợp chuỗi dài (long-chain polymers), có đặc tính là co lại khi lạnh nhưng lại duỗi ra khi nóng, và do đó làm thay đổi đặc tính độ nhớt của dầu.

Như vậy loại dầu 10w40 sẽ chảy như dầu có độ nặng 10 khi ở nhiệt độ 40°C (khá loãng), nhưng sẽ không loãng hơn dầu có độ nặng 40 khi nóng ở nhiệt độ 100°C.

Đặc tính dầu nhớt của nhà sản xuất động cơ

Dầu càng đặc thì càng giảm được rung chấn tốt hơn, nhưng ở cùng thời điểm thì dầu có thể là sẽ quá đặc (đặc biệt khi trời lạnh) hoặc là quá loãng (đặc biệt khi trời nóng) ảnh hưởng tới hiệu năng của bơm dầu. Dầu quá đặc (hoặc chứa các chuỗi polymer quá dài, chẳng hạn 10W60) có thể khiến thiếu hụt dầu do dầu quá đặc không thể chảy qua được các khe hở khít, chẳng hạn giữa xéc măng và xylanh. Vì vậy mà các nhà sản xuất động cơ chỉ định một loại độ nặng được khuyến cáo cho sản phẩm của họ, cái mà cân bằng giữa nhu cầu giảm thiểu ma sát với khả năng của bơm dầu để làm văng dầu vào các chi tiết máy khi máy lạnh hoặc nóng đảm bảo bôi trơn được toàn bộ các chi tiết máy.

Từ khi dầu nhớt động cơ thông thường không bao giờ lạnh hơn môi trường xung quanh động cơ, các nhà sản xuất động cơ thường chỉ định dầu động cơ đa cấp cho động cơ của họ dựa trên nhiệt độ môi trường xung quanh khi động cơ hoạt động và khi không hoạt động.

Sự phá hỏng độ nhớt

Như đã biết, độ nhớt của dầu càng cao thì càng chống lại ma sát tốt hơn. Sự phá hỏng độ nhớt là hoạt động chia cắt các hyđrô cácbon trong dầu, làm giảm hiệu quả của khả năng chống lại ma sát của dầu. Nếu độ nhớt bị hỏng quá nhiều thì dầu sẽ đơn giản là không thể bảo vệ được bề mặt động cơ khỏi ma sát nữa. Sự phá hỏng độ nhớt là một trong 3 lý do đầu tiên mà chúng ta phải thay dầu. Hai lý do còn lại là các hạt lơ lửng hoặc chất gây ô nhiễm mà có thể gây mòn các bề mặt va chạm, và sự ôxi hóa hay còn gọi là sự hình thành cặn trong dầu.

Bất cứ ai đã từng xem TV trong khoảng thập niên 80 đến 90 đều biết (từ việc xem chương trình quảng cáo dầu nhớt Castrol GTX), động cơ chạy ở vòng tua cao hơn thì sẽ phá hỏng độ nhớt nhanh hơn. Đấy là do tốc độ xuất hiện lực trượt phá cao hơn (sự đổi hướng của các bộ phận cơ khí nhanh hơn) và tốc độ phản ứng hóa học nhanh hơn (do nổ nhiều hơn…), cũng như nhiệt độ cao. So sánh với động cơ ôtô, vòng tua động cơ xe gắn máy nhanh hơn rất nhiều do đó cũng gây hỏng dầu nhanh hơn. Nhiệt độ cao là một nguyên nhân nhiều hơn khiến cho các xe giải nhiệt bằng gió hoặc dầu bị phá hỏng độ nhớt nhanh hơn các xe có giải nhiệt bằng két nước (nhanh hơn rất nhiều so với ôtô).

Thay dầu và lọc dầu:

Bạn hãy thay dầu thường xuyên hơn theo khuyến cáo của nhà sản xuất trong trường hợp:

- Xe chạy trong môi trường nhiều bụi bẩn (chẳng hạn sa mạc hoặc đường đất);

- Xe chạy trong môi trường có độ ẩm cao (độ ẩm cao hơn 85%);

- Xe chạy thường xuyên trong môi trường có nhiệt độ cao (trên 32°C);

- Bạn hay chạy xe những quãng ngắn (dưới 15 dặm);

- Bạn hay chạy ép số tức là chạy ở vòng tua cao (chẳng hạn khi depart ở đèn đỏ);

- Bạn thường xuyên phải tăng giảm tốc đột ngột lúc tắc đường hoặc nói chung là đi trong thành phố (có thể làm cho dầu chóng nhanh hỏng tới 50%);

- Bạn lái xe không thường xuyên (ít hơn một lần mỗi 4 ngày);

Bạn nên thay dầu ngay lập tức bất cứ lúc nào nếu như xe bị quá nhiệt hoặc có dấu hiệu quá nhiệt hoặc trong trường hợp động cơ bị vào nước.

Lưu ý đặc biệt đối với bộ chế hòa khí

Dẫu cho thị trường xe gắn máy đang chuyển dần sang sử dụng chế hòa khí điện tử (hệ thống phun xăng điện tử), vẫn có rất nhiều xe gắn máy sử dụng chế hòa khí truyền thống. Bất cứ khi nào chiếc xe gắn máy sử dụng chế hòa khí thường bị đổ (dù trong trường hợp đang chạy ở tốc độ cao hay chỉ bị đổ ở nơi dựng xe), một phần xăng từ bát phao của chế hòa khí sẽ chảy xuống động cơ. Xe có chế vuông cũng bị tương tự. Xăng sẽ làm cho dầu mất khả năng bôi trơn. Do vậy, bất cứ khi nào xe bạn bị xăng chảy vào dầu thì phải thay dầu ngay lập tức. Nếu không làm vậy thì động cơ sẽ sớm bị hỏng.

Chọn lựa độ nhớt phù hợp:

Sử dụng độ nhớt được khuyến cáo bởi nhà sản xuất xe gắn máy phù hợp với môi trường xunh quanh mà bạn lái xe. Dẫu cho là dầu có độ nhớt càng cao thì theo lý thuyết sẽ giảm thiểu ma sát càng tốt, những cũng có thể giảm thiểu lượng dầu chảy qua vòng bi và giữa các bề mặt khít, dẫn đến hiện tượng thiếu dầu ở những điểm đấy (như vậy đủ để loại bỏ lý lẽ là dầu càng đặc càng tốt để sử dụng). Không bao giờ sử dụng loại dầu loãng hơn được khuyến cáo (chẳng hạn nếu chỉ định của nhà sản xuất là 10W-40 thì không được sử dụng loại 5W-40).

Thế Đạt (Theo PL&XH/ Nguồn: OF)

Cận cảnh xe Suzuki Axelo – đối thủ của Yamaha Exciter

Trưa ngày 28/12/2012, mẫu xe côn tay Suzuki Axelo đã chính thức ra mắt tại showroom Suzuki World tại TP HCM.

Lambretta LN 125 lắp ráp trong nước gần như không thay đổi về kiểu dáng thiết kế, chi tiết, nhưng giá giảm mạnh nhờ hưởng ưu đãi về thuế.

Đây được xem là đối thủ của Yamaha Exiter, cũng là một dòng xe côn tay thống trị thị trường Việt Nam trong một thời gian dài. Sự xuất hiện của Suzuki Axelo cho thấy nỗ lực của hãng tại Việt Nam trên con đường lấy lại hình ảnh của mình.

Suzuki Alexo được trang bị động cơ xăng 4 thì 125cc, 1 xy lanh, làm mát bằng không khí, công suất cực đại 7,06 kW tại 8.000 vòng/phút, mô-men xoắn cực đại 9,9 Nm tại 6.000 vòng/phút, đi kèm hộp số 4 cấp. Hệ thống giảm xóc trước dạng Telescopic, lò xo trụ, giảm chấn thủy lực, trong khi giảm xóc sau dạng gắp.

Về ngoại hình, mẫu xe từ Suzuki được đánh giá không hấp dẫn bằng đối thủ Yamaha Exiter, bởi kiểu dáng của nó khá bình thường, nhiều nét pha trộn từ các dòng xe khác mà Suzuki sản xuất. Bánh xe sử dụng bộ vành đúc 5 chấu có hình dáng tương tự như trên mẫu xe tay ga Hayate. Trong khi đó phần đầu xe gần như tương đồng với mẫu X-Bike 125, với thiết kế đèn pha và đèn xi-nhan nằm tách biệt.

Alexo có trọng lượng khô 108 kg và dung tích bình xăng 4,3 lít. Axelo sở hữu chiều dài 1.895mm, chiều rộng 715mm, chiều cao 1.075mm, khoảng cách giữa hai trục bánh xe là 1.220mm, khoảng sáng gầm 125mm. Những thông số này cho thấy Axelo có kích thước không chênh lệch bao nhiêu so với X-Bike.

Suzuki Alexo được phân phối tại Việt Nam với 2 phiên bản SP côn tự động có giá 23.990.000 VNĐ và RR côn tay được bán với giá 25.990.000 VNĐ (đã bao gồm VAT). Phiên bản RR cao cấp hơn nên được “ưu ái” với phanh đĩa cả trước và sau, còn bản SP chỉ sử dụng phanh đĩa phía trước, ở sau là phanh đùm. Màu sắc trên tem xe cũng có sự khác biệt: ngoài màu đỏ-đen dùng chung, bản RR có riêng tem màu xanh-trắng trong khi tem màu đen-trắng chỉ có trên bản SP.

Suzuki Axelo là dòng xe số underbone hoàn toàn mới, từng được ra mắt lần đầu tại thị trường Malaysia vào cuối năm 2011. Sau đó, Suzuki lần lượt đem chiếc xe này giới thiệu tại các quốc gia Đông Nam Á khác trong năm 2012 như Indonesia, Thái Lan… và nay đến lượt Việt Nam.

Một số hình ảnh của Axelo trong showroom:

Nhận biết các chủng loại xe, năm SX, loại động cơ?

Liên tục trong thời gian qua, Autonet nhận được câu hỏi của nhiều bạn đọc hỏi về cách phân biệt các loại xe máy trên thế giới. Bài này sẽ cùng các bạn đi tìm hiểu về thiết kế và tên gọi các dòng xe phổ biến.
Trên thế giới có rất nhiều loại xe máy (khoảng gần 30 loại) với các thiết kế và mục đích sử dụng khác nhau. Autonet chỉ trích lược những loại thường gặp nhất.

1. Chopper

Đây là loại xe máy với góc nghiêng phuộc trước rất lớn, phuộc vươn dài về phía trước. Thông thường loại xe này có kiểu dáng thanh thoát với lốp bánh trước có tiết diện nhỏ và nhẹ.

2. Cruiser

Là một khái niệm mới về xe mô tô xuất hiện vào những năm 1980, chỉ các loại xe phong cách cổ điển với yên thấp, dáng người ngồi thẳng lưng và có rất nhiều trang trí mạ chrome.

3. Touring Bike

Là loại xe máy được trang bị sang trọng và tiện nghi để phục vụ các chuyến đi xa và dài ngày. Xe này thường có ốp che gió và các hộp đựng hành lý lớn.

4. Naked Bike

Dịch thô là xe trần, tức là xe không có các ốp chắn phía trước cũng như bên hông xe, để lộ động cơ (thậm chí là cả khung xe).

5. Sportbike

Loại xe siêu tốc và có trọng lượng cực nhẹ, đầy đủ các mảng ốp chắn, trang bị tiện nghi thì lại nghèo nàn và đơn sơ bởi thế mạnh của loại xe này là tăng tốc tốt, ga nhạy bén, phanh ăn tốt… Tóm lại đó là xe được sản xuất bằng các nguyên liệu nhẹ, đắt tiền để tối ưu hóa tính năng.

5. Sport Tourer – Sport Touring

Là các loại xe máy kết hợp giữa xe máy thể thao và xe du lịch. Chính vì vậy Sport Tourer thường có trang bị không được tiện nghi như xe Touring, nhưng động cơ lại mạnh mẽ hơn và tăng tốc cũng tốt hơn.

6. Scooter

 

Là loại xe máy có bánh nhỏ và béo, động cơ thì đặt ngay gần bánh sau, để lại một khoảng không rộng và phẳng để chân của người điều khiển. Các loại xe scooter được trang bị động cơ lớn thì được gọi là Maxi-Scooter.

7. Off-road Bike

Đây là loại xe mô tô được thiết kế để chuyên sử dụng trên điều kiện địa hình. Hệ thống giảm xóc có biên độ lớn và lốp có gai rất to.

8. Minibike

Là các phiên bản cỡ nhỏ của những loại xe truyền thống. Thường thì loại xe này không được lưu hành một cách hợp pháp trên đường giao thông.

9. Supermoto

Là loại xe trông kiểu dáng giống xe địa hình, nhưng được trang bị lốp mềm không có gai để vận hành trên đường nhựa.

10. Moped

Đây là loại xe đặc biệt, “xe đạp lắp động cơ”, thường có cả pedal để người điều khiển xe đạp hỗ trợ trong trường hợp cần thiết. Động cơ thường cỡ nhỏ dưới 50cc và tốc độ bị khống chế dưới 50km/h.

11. Sidecar (quen gọi là sít-đờ-ca)

Là loại xe có một chiếc thùng chở bổ sung gắn vào sườn của một chiếc xe máy để chở hàng hoặc chở thêm một người. Ưu việt của loại xe này là thăng bằng tốt hơn xe máy thông thường, có thể hoạt động tốt trên cả các địa hình trơn trượt.

Hoàng Nam(theo Autonet).